Internet Business Promoter – Công cụ làm SEO

SEO là một công việc vô cùng vất vả ngay cả đỗi với các SEOer có kinh nghiệm lâu năm trong giới làm SEO. Khi viết bài này Ngân Sơn không chắc là mình trở thành một chuyên gia về SEO. Hiện tại mình chỉ đam mê  và tìm hiểu về SEO – các thủ thuật SEO mũ trắng và mũ đen. Đó là lý do vì sao hiện tại trang  nganson.com vẫn Alexa rất cao và hiện tại chưa có PR và Link in. Điều này được lý giải chính xác là trang của mình chỉ ra đời cách đây có hai tuần, lúc trước Ngân Sơn có nghiên cứu về SEO mũ đen, tuy thời gian đầu hiệu quả đến bất ngờ nhưng về sau vài tháng gần đây Google thay đổi thuật toán nên một số Blog Afiliate của Ngân Sơn PR mất trắng. Từ đó mình đã quyết định chấm dứt với SEO mũ đen. Và một lời khuyên chân thành cho các bạn là không nên qua mặt Google.

Sau khi bỏ các thủ thuật Seo mũ đen, mình mới bắt đầu tìm hiểu về SEO mũ trắng vài tháng cách đây. Bất ngờ thay, là SEO mũ trắng rất vất vả với biết bao thủ thuật. Tuy nhiên mình mong là một ngày nào đó sẽ không chịu sự trừng phạt của Google.

Là Newbie về SEo dược bạn bè gới thiệu một phần mềm hỗ trợ rất tốt cho những ai mới bắt đầu về SEO, đó là Internet Business Promoter -là một phần mềm đoạt giải thưởng cao trong công cụ tìm kiếm website. IBP giúp bạn có được thứ hạng cao trong công cụ tìm kiếm:
* Nhận top 10 bảng xếp hạng vào Google, Yahoo, Bing tìm kiếm và những người khác.
* Nhận nhiều khách truy cập website và tăng thu nhập của bạn.
* Tốt hơn đối thủ cạnh tranh của bạn.
Làm thế nào chúng tôi có thể đảm bảo top 10 bảng xếp hạng trên Google và gây được sự chú ý?

Nhiều người sẽ cho bạn biết rằng nó không thể đảm bảo top 10 bảng xếp hạng trên Google. Đó là chính xác. Không ai có thể đảm bảo top 10 bảng xếp hạng ngoại trừ cho các kỹ sư của Google.

Tuy nhiên, IBP công cụ này có một tỷ lệ thành công của hơn 98%.Cách hoạt động cụ thể?

1. Bạn chọn từ khoá và công cụ tìm kiếm

Bạn cho IBP mà từ khóa bạn muốn có được một vị trí 10 trên và bạn chọn công cụ tìm kiếm mà bạn muốn có một vị trí top 10. Điều này có thể được Google.com, Google.co.uk, rất nhiều biến thể khác của địa phương Google cũng như Yahoo, Bing, các biến thể của địa phương và các công cụ tìm kiếm khác.

2. IBP phân tích trang web của bạn

Top 10 Optimizer của IBP sau đó sẽ phân tích tất cả các yếu tố chi có liên quan trên trang web của bạn và các liên kết đến trang web của bạn và tính toán một số điểm xếp hạng dựa trên thông tin đó. Càng cao điểm số xếp hạng, nhiều khả năng nó là trang web của bạn sẽ được liệt kê trên trang kết quả đầu tiên của Google.

3. IBP cho bạn biết cụ thể những gì bạn phải thay đổi

Nếu trang web của bạn không có một điểm số 100%, IBP sẽ cho bạn biết bằng tiếng Anh bạn chính xác những gì phải làm để cải thiện trang web của bạn và các liên kết đến trang web của bạn. tư vấn sẽ được thay đổi để trang web của bạn, các công cụ tìm kiếm và lựa chọn từ khóa đã chọn. IBP sẽ cho bạn biết cụ thể những gì bạn phải thay đổi và làm thế nào bạn có để thay đổi nó.

4. Bạn thực hiện các thay đổi trên trang web của bạn

Trong bước cuối cùng, bạn thay đổi trang web của bạn theo những lời đề nghị của Top 10 của IBP Tối ưu hóa cho đến khi không có đề nghị thêm (IBP’s Top 10 tối ưu hoá cho trang web của bạn một đánh giá 100%).

Đó là hướng đẫn sử dụng cơ bản nhất mà Ngân Sơn được hướng dẫn sử dụng về phần mềm này. Tuy mới sử dụng nhưng mình cảm nhận được sự thay đổi rõ rệt của Website nên hôm nay viết bài chia sẻ .

Các bạn nào cần sử dụng Internet Business Promoter thì có thể đăng ký cho mình một món nhé.

Huy vọng nhận được comment của các bạn về phần mềm này.

Enhanced by Zemanta

Quy Tắc Chung Của Hệ Thống HS Phần 2

Như ở bài trước Ngân Sơn đã giới thiệu tới các bạn Các Quy Tắc Chung Của Hệ Thống HS Phần 1 . 

Để tiếp tục chúng ta hãy đến với phần 2 của nhóm nguyen tắc phân loại này.

Chú giải quy tắc 3(b)

(vi) Các phân loại theo quy tắc 3(b) chỉ nhằm vào các trường hợp: (i),(ii).(iii),(iv)

Cách phân loại này chỉ áp dụng nếu không phân loại được theo quy tắc 3(a)

(vii) Trong tất các trường hợp trên, hàng hoá được phân loại theo nguyên liệu hoặc cấu thành tạo nên tính chất cơ bản của hàng hoá trong chừng mực tiêu chí này được áp dụng.

(viii) yếu tố xác định tính chất cơ bản của hàng hoá đa dạng theo các loại hàng hoá khác nhau. ví dụ, có thể xác định theo bản chất của nguyên liệu hoặc bộ phận cấu thành, theo thành phần, kích thước, số lượng, trọng lượng, trị giá, hoặc theo vai trò của nguyên liệu cấu thành có liên quan đến việc sử dụng hàng hoá.

(ix) quy tắc 3(b) này được áp dụng cho những mặt hàng được cấu tạo từ những thành phần khác nhau, không chỉ trong trường hợp những thành phần này gắn kết với nhau thành một tập hợp không thể tách rời được trong thực tế, mà cả khi những thành phần đó để rời nhau, nhưng với điều kiện những thành phần này thích hợp với nhau và bổ sung cho nhau, tập hợp của chúng tạo thành một bộ mà thông thường không thể được bán rời.  có thể kể ra một số ví dụ vũ loại sản phẩm trên:

Ví dụ 1: mặt hàng gạt tàn thuốc gồm một các giá khung trong đó có một cái cốc có thể tháo ra lắp vào để đựng tàn thuốc.

Ví dụ 2: mặt hàng giá để gia vị dùng trong gia đình gồm có khung được thiết kế đặc biệt (thường bằng gỗ) và một số lượng thích hợp các lọ gia vị có hình dạng và kích thước phù hợp.

Thông thường, những thành phần khác nhau của tập hợp hàng hoá trên được đựng trong cùng một bao bì.

sản phẩm hỗn hợp.

sản phẩm cấu tạo từ nhiều nguyên liệu khác nhau.

sản phẩm cấu tạo từ nhiều cấu thành khác nhau.

hàng hoá được đóng gói ở dạng bộ để bán lợ.

(x) Theo quy tắc 3(b) này, hàng hoá được coi như ”ở dạng bộ được đóng gói để bán lợ” phải có những điều kiện sau:

(a) Phải có ít nhất hai loại hàng khác nhau, mà ngay từ đầu thoạt nhìn có thể xếp vào nhiều nhóm hàng khác nhau. ví dụ, sáu cái nĩa rán không được coi là một bộ theo quy tắc này, vì không thể xếp 6 cái nĩa rán vào hai nhóm hàng.

(b) Gồm những sản phẩm hoặc hàng hoá được xếp đổt cùng nhau để đáp ứng một yêu cầu nhất định hoặc để thực hiện một chức năng xác định; và

(c) Được xếp theo cách thích hợp để bán trực tiếp cho người sử dụng mà không cần đóng gói tiếp (ví dụ: đóng gói trong hộp, tráp, hòm). thuật ngữ trên bao trùm những bộ hàng, ví dụ như bộ hàng gồm nhiều thực phẩm khác nhau nhằm sử dụng để chế biến một món ăn hoặc bữa ăn ngay.

các ví dụ về bộ hàng có thể được phân loại theo quy tắc 3(b) như sau:

ví dụ 1:

(a) bộ thực phẩm bao gồm bánh xăng đuých làm bằng thịt bò, có và không có pho mát (nhóm 16.02), được đóng gói với khoai tây chiên (nhóm 20.04); được phân vào nhóm 16.02.

(b) bộ thực phẩm dùng để nấu món spaghetti (mỳ) gồm một hộp mỳ sống (nhóm 19.02), một gói fomát béo (nhóm 04.06) và một gói nhỏ sốt cà chua (nhóm 21.03), đựng trong một hộp các-tông.

Trong trường này spaghetti sống đem lại cho sản phẩm đặc tính cơ bản. Do đó, sản phẩm được phân loại như thể chỉ bao gồm spaghetti sống thuộc nhóm 19.02.

Tuy nhiên quy tắc này không bao gồm bộ hàng gồm nhiều sản phẩm được đóng cùng nhau, ví dụ:

– một thùng đồ hộp gồm: 01 hộp tôm (nhóm 16.05), 01 hộp patê gan (nhóm 16.02), 01 hộp pho mát (nhóm 04.06), 01 hộp thịt xông khói (nhóm 16.02) và 01 hộp xểch xích cocktail (nhóm 16.01); hoặc

– một hộp gồm:01 chai rượu nạnh thuộc (nhóm 22.08) và 01 chai rượu vang thuộc (nhóm 22.04)

Trường hợp 2 ví dụ nêu trên và các bộ hàng hoá tương tự, mỗi mặt hàng sẽ được phân loại riêng biệt vào nhóm phù hợp với chính mặt hàng đó.

ví dụ 2: bộ đồ làm đầu gồm: một tông đơ điện (nhóm 85.10), một cái lược (nhóm 96.15), một cái kéo (nhóm 82.13), một bàn chải (nhóm 96.03), một khăn mặt (nhóm 63.02), đựng trong một các túi bằng da (nhóm 42.02).

trong ví dụ này, tông đơ điện đem lại cho sản phẩm đặc tính cơ bản của bộ đồ làm đầu. do vậy, sản phẩm được phân loại vào nhóm 85.10.

ví dụ 3: bộ dùng cụ vẽ gồm: một thước (nhóm 90.17), một vòng tính (nhóm 90.17), một compa (nhóm 90.17), một bút chì (nhóm 96.09), cái vót bút chì (nhóm 82.14), đưng trong túi nhựa (nhóm 42.02).

Trong bộ sản phẩm trên, thước, vòng, compa tạo nên xđặc tính cơ bản của bộ dụng cụ vẽ. do vậy,bộ đựng dụng cụ vẽ được phân loại vào nhóm 90.17.

Đối với những sản phẩm không thoả mãn các điều kiện quy định tại phần x của Chú giải quy tắc 3(b), không được coi như được đóng bộ để bán lại thì mỗi mặt hàng của sản phẩm sẽ được phân loại riêng biệt, vào nhóm phù hợp nhất với nó.

(xi) quy tắc này không được áp dụng cho hàng hoá bao gồm những

Thành phần được đóng gói riêng biệt và có hoặc không được xếp cùng với nhau trong một bao chung với một tỷ lử cố định cho sản xuất công nghiệp, vý dụ như sản xuất đồ uống.

Tiep thi lien ket

 Chú giải quy tắc 3(c)

(xii) Khi không áp dụng được quy tắc 3(a) hoặc 3(b), hàng hoá sẽ được phân loại theo quy tắc 3(c).Theo quy tắc này thì hàng hoá được phân loại voà nhóm có thứ tự sau cùng trong số các nhóm cùng được xem xét để phân loại.

ví dụ: trở lại ví dụ băng tải một mặt là plastic còn một mặt là cao su nêu tại quy tắc 3(a). xét thấy mặt hàng này không thể quyết định phân loại vào nhóm 4010 hay nhóm 3926 theo quy tắc 3(a), và cũng không thể phân loại mặt hàng này theo quy tắc 3(b). vì vậy, mặt hàng sẽ được phân loại theo quy tắc 3(c), tức là “phân loại vào nhóm có thứ tự sau cùng trong số các nhóm cùng được xem xét”. theo nguyên tắc này, mặt hàng trên sẽ được phân loại vào nhóm 40.10.

Quy tắc 4

Hàng hoá không thể phân loại theo đúng các quy tắc trên đây thì được phân loại vào nhóm phù hợp với loại hàng giống chúng nhất.

Chú giải quy tắc 4:

(i) quy tắc này đã cập đến hàng hoá không thể phân loại theo quy tắc 1 đến quy tắc 3. Quy tắc này quy định rằng những hàng hoá trên được phân loại vào nhóm phù hợp với loại hàng hoá giống chúng nhất.

(ii) Cách phân loại theo quy tắc 4 đòi hỏi việc so sánh hàng hoá định phân loại với hàng hoá tương tự đã được phân loại để xác định hàng hoá giống chúng nhất. những hàng hoá định phân loại sẽ được xếp trong nhóm của hàng hoá giống chúng nhất.

(iii) Xác định giống nhau có thể dựa trên nhiều yếu tố, ví dụ như mô tả, đặc điểm, tính chất, mục đích sử dụng của hàng hoá.

Quy tắc 5

Những quy định sau được áp dụng cho những hàng hoá dưới đây.

(a) Bao máy ảnh, hộp đưng nhạc cụ, bao súng, hộp đựng dụng cụ vẽ, hộp tư trang và các loại bao hộp tương tự, thích hợp hoặc có hình dạng đặc biệt để chứa hàng hoá hoặc bộ hàng hoá xác định, có thể dùng trong thời gian dài và đi kèm với sản phẩm khi bán, được phân loại cùng với những sản phẩm này. Tuy nhiên, nguyên tắc này không được áp dụng đối với bao bì mang tính chất cơ bản nổi trội hơn so với hàng hoá mà nó chứa đựng.

(b) Ngoài quy tắc 5(a) nêu trên, bao bì đựng hàng hoá được phân loại cùng với hàng hoá đó khi bao bì là loại thường được ding cho loại hàng đó. Tuy nhiên, nguyên tắc này không áp dụng đối với loại bao bì mà rõ ràng là phù hợp để dùng lặp lại.

Chú giải quy tắc 5(a) (hộp, túi, bao và các loại bao bì chứa đựng tương tự)

(i) Quy tắc này chỉ để áp dụng cho các bao bì ở dạng sau:

1. Thích hợp riêng hoặc có hình dạng đặc biệt để đựng một loại hàng hoặc bộ hàng xác định, tức là bao bì được thiết kế đặc thù để chứa các hàng hoá đó, một số loại bao bì có thể có hình dạng của hàng hoá mà nó chứa đựng.

2. Có thể sử dụng lâu dài, tức là chúng được thiết kế để có độ bền dùng cùng với hàng hoá ở trong. những bao bì này cũng để bảo quản hàng hoá khi chưa sử dụng (ví dụ: trong quá trình vận chuyển hoặc lưu trữ). Đặc tính này cho phép phân biệt chúng với những loại bao bì đơn giản;

3. Được trình bày với hàng hoá chứa đựng trong chúng, các hàng hoá này có thể được đóng gói riêng hoặc không để thuận tiện cho việc vận chuyển. trường hợp bao bì được trình bày riêng lẻ được phân loại theo nhóm thích hợp với chúng.

4. Loại bao bì thường được bán với hàng hoá chức đựng trong nó; và

5. Không mang tính chất cơ bản của bộ hàng.

(ii) Những ví dụ về bao bì đi kèm với hàng hoá và áp dụng quy tắc này để phân loại:

1. hộp trang sức (nhóm 71.13).

2. bao đựng máy cạo rtâu bằng điện (nhóm 85.10)

3. bao ống nhòm, hộp kính viụn vọng (nhóm 90.05)

4. hộp, bao và túi đựng nhạc cụ (nhóm92.02)

5. bao súng (nhóm 93.03)

(iii) Những ví dụ vũ bao bì không áp dụng quy tắc này, có thể kể như: hộp đựng chè bằng bạc hoặc cốc gốm trang trí đựng đồ ngọt.

Chú giải quy tắc 5(b) (bao bì)

(iv) Quy tắc này quy định việc phân loại bao bì thường được dùng để đóng gói chứa đựng hàng hoá. tuy nhiên, quy tắc này không áp dụng cho bao bì có thể dùng lặp lại, ví dụ trong trường hợp thùng kim loại hoặc bình sắt, thép đựng khí đốt dạng nén hoặc lỏng.

(v) Quy tắc này liên quan tực tiếp đến quy tắc 5(a). bởi vậy, việc phân loại những bao, túi và bao bì tương tự thuộc loại đã nêu tại quy tắc 5(a) phải áp dụng đúng theo quy tắc 5(a)

Quy tắc 6

Để đảm bảo tính pháp lý, việc phân loại hàng hoá vào các phân nhóm của một nhóm phải được xác định phù hợp theo nội dung của từng phân nhóm, các Chú giải phân nhóm có liên quan,

Và các quy tắc trên với những sửa đổi vũ chi tiết cho thích hợp, trong điều kiện là chỉ có những phân nhóm cùng cấp độ mới so sánh được. theo quy tắc này thì các Chú giải phần và chương có liên quan cũng được áp dụng, trừ khi nội dung mô tả trong phân nhóm có những yêu cầu khác.

Chú giải quy tắc 6

(i) Với những sửa đổi chi tiết cho thích hợp, các quy tắc từ 1 đến 5 điều chỉnh việc phân loại ở cấp độ phân nhóm trong cùng một nhóm.

(ii) Theo quy tắc 6, những cụm từ dưới đây có các nghĩa được quyđịnh như sau:

(a)”các phân nhóm cùng cấp độ”: phân nhóm một gạch (cấp độ 1) hoặc phân nhóm hai gạch (cấp độ 2).

Do đó, khi xem xét tính phù hợp của hai hay nhiều phân nhóm một gạch trong một phân nhóm theo quy tắc 3(a), tính mô tả đặc trưng hoặc giống hàng hoá cần phân loại nhất chỉ được đánh giá trên cơ sở nội dung của các phân nhóm một gạch có liên quan. khi đã xác định được phân nhóm một gạch đó có mô tả đặc trưng nhất thì phân nhóm một gạch đó được chọn. Khi các phân nhóm một gạch được phân chia tiếp thì phải xem xét nội dung của các phân nhóm hai gạch để xác định lựa chọn phân nhóm hai gạch phù hợp nhất cho hàng hoá cần phân loại.

(b) ”trừ khi nội dung của phân nhóm có yêu cầu khác”, có nghĩa là: trừ khi những Chú giải của phần hoặc chương có nội dung không phù hợp với nội dung của phân nhóm hàng hoặc Chú giải phân nhóm.

ví dụ: tại chương 71, định nghĩa vũ “bạch kim: nêu trong Chú giải 4(b) cùng chương này khác với Chú giải phân nhóm 2 của chương này, cụ thể:

+ Chú giải 4(b) chương 71: khái niửm bạch kim có nghĩa platin (pt), iridi (ir), osimi (os), paladi(pd), rodi(rh) và rutheri (ru).

+ Chú giải phân nhóm 2 chương 71:”mặc dù đã quy định trong Chú giải 4(b) cùng chương này, nhưng theo các phân nhóm 7010.11 và 7010.19, khai niửm bạch kim không bao gồm iridi (ir), osimi (os), paladi (pd), rodi (rh)  hoặc rutheri (ru).

Do vậy, để giải thích các phân nhóm 7010.11 và 7010.19, Chú giải phân nhóm 2 sẽ được áp dụng còn Chú giải 4(b) của chương không được áp dụng.

(iii) Phạm vi của phân nhóm cấp 2 không vượt quá phạm vi của phân nhóm cấp 1 mà nó trực thuộc; và phạm vi của phân nhóm cấp 1 không vượt quá phạm vi của nhóm mà phân nhóm cấp 1 trực thuộc.

Các quy tắc chung của hệ thống HS phần 1

Nganson -Tiepthilienket

Tiếp theo phần mục lục của Hệ thống HS, Ngân Sơn sẽ giới thiệu đến với các bạn các nguyên tắc chung cho việc phân nhóm HS. Dựa trên những cơ sở nào mà biểu thuế xuất nhập khẩu của mỗi quốc gia thường được phân chia theo từng nhóm tương tự nhau. Bài viết này gồm hai phần và được đăng tải trông ngày hôm nay.

Việc phân loại hàng hoá được thực hiện theo các quy tắc cơ bản dưới đây:

Quy tắc 1

Tên của các phần, của chương hoặc của phân chương được đưa ra chỉ nhằm mục đích dụ tra cứu. Để đảm bảo tính pháp lý, việc phân loại hàng hoá phải được xác định theo nội dung của từng nhóm và bất cứ Chú giải của các phần, chương liên quan và theo các quy tắc dưới đây nếu các nhóm hoặc các Chú giải đó không có yêu cầu nào khác.

Chú giải quy tắc 1

(i) Hàng hoá là đối tượng của thương mại quốc tế được sắp xếp một cách có hệ thống trong danh mục của hệ thống hài hoà theo các phần, chương và phân chương. Tên của phần, chương và phân chương được ghi ngắn gọn, súc tích để chỉ ra loại hoặc chủng loại hàng hoá được xếp trong đó. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp vì sự đa dạng của chủng loại và số lượng hàng hoá nên tên các phần, chương và phân chương không thể bao trùm hết toàn bộ hoặc liửt kê hết các hàng hoá trong đũ mục đó.

(ii) Ngay từ đầu quy tắc 1 quy định rằng những tên đũ mục “chỉ nhằm mục đích dụ tra cứu”. Điều đó có nghĩa là tên các phần, chương và phân chương không có giá trị pháp lý trong việc phân loại hàng hoá.

(iii) Phần thứ hai của quy tắc này quy định rằng việc phân loại hàng hoá được xác định theo:

(a) Nội dung của nhóm hàng và bất cứ Chú giải phần hoặc chương nào có liên quan, và

(b) Các quy tắc 2,3,4 và 5 khi nội dung nhóm hàng hoặc các Chú giải không có yêu cầu nào khác.

(iv) Rất nhiều hàng hoá có thể được phân loại trong danh mục mà không cần xem xét thêm bất cứ quy tắc giải thích nào, nghĩa là chúng đã thể hiện rõ ràng theo Chú giải quy tắc 1 nêu tại mục (iii) (a). ví dụ: ngựa sống (nhóm 01.01), dược phẩm được nêu cụ thể trong Chú giải 4 của chương 30 (nhóm 30.06).

(v) Trong Chú giải quy tắc 1 phần (iii) (b) có nêu” khi nội dung nhóm hàng hoặc các Chú giải không có yêu cầu nào khác” là nhằm khẳng định nội dung của nhóm hàng và bất kỳ Chú giải phần hoặc chương nào có liên quan có giá trị tối cao, nghĩa là chúng phải được xem xét trước tiên khi phân loại.

Ví dụ: ở chương 31, các Chú giải nêu rằng các nhóm nhất định chỉ liên quan đến những hàng hoá nhất định. Vì vậy, những nhóm hàng đó không được mở rộng cho những mặt hàng khác bằng việc áp dụng quy tắc 2(b).

Quy tắc 2

(a) Một mặt hàng được phân loại trong một nhóm hàng, thì những mặt hàng đó ở dạng chưa hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn thiện những đã có đặc trưng cơ bản của hàng hoá đã hoàn  chỉnh hoặc hoàn thiện cũng thuộc nhóm đó. cũng phân loại như vậy đối với hàng hoá ở dạng hoàn chỉnh hay hoàn thiện hoặc đã có đặc trưng cơ bản của hàng hoá ở dạng hoàn chỉnh hay hoàn thiện nhưng chưa lắp ráp hoặc tháo rời.

(b) Nếu một nguyên liệu, một chất được phân loại trong một nhóm nào đó thì hỗn hợp hay hợp chất của nguyên liệu hoặc chất đó với những nguyên liệu hoặc chất khác cũng thuộc nhóm đó. hàng hoá làm toàn bộ bằng một loại nguyên liệu hay một chất, hoặc làm một phần bằng nguyên liệu hay chất đó được phân loại trong cùng một nhóm. việc phân loại những hàng hoá làm bằng hai loại nguyên liệu hay hai chất trở lên phải tuân theo quy tắc 3.

Nganson -Tiepthilienket

Tiepthilienket

Chú giải quy tắc 2

Chú giải quy tắc 2(a)

(Các mặt hàng ở dạng chưa hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn thiện).

(i) Phần đầu của quy tắc 2(a) đã mở rộng phạm vi của một số nhóm hàng đặc thù không chỉ bao gồm hàng hoá hoàn chỉnh mà còn bao gồm cả hàng hoá ở dạng chưa hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn thiện, với điều kiện chúng có những đặc trưng cơ bản của hàng đã hoàn chỉnh hoặc hoàn thiện.

(ii) Nội dung của quy tắc này cũng được mở rộng áp dụng cho phôi đã có hình phác của sản phẩm hoàn chỉnh. thuật ngữ ”phôi đã có hình phác của sản phẩm hoàn chỉnh” có nghĩa là những loại hàng chưa sử dụng trực tiếp ngay được, đã có hình dạng hoặc đường nét bên ngoài gần giống với sản phẩm hoặc bộ phận hoàn chỉnh, được sử dụng (trừ những trường hợp ngoại lử) để hoàn thiện thành những sản phẩm hoặc bộ phận hoàn chỉnh. Các hàng hoá là bán sản phẩm chưa có hình dạng cơ bản của sản phẩm hoàn thiện (như thanh, đĩa, ống v.v…) không được coi là ” phôi đã có hình phác của sản phẩm hoàn chỉnh”.

(iii) quy tắc 2(a) thường không áp dụng cho các sản phẩm thuộc các nhóm của phần i đến phần iv (chương 1 đến chương 24).

(iv) Các trường hợp áp dụng quy tắc này được thể hiện trong các Chú giải chung của phần hoặc chương (ví dụ; phần xvi, và chương 61,62,86,87 và 90).

Chú giải quy tắc 2(a) (các mặt hàng ở dạng chưa lắp ráp hoặc tháo rời)

(v) Phần thứ hai của quy tắc 2(a) quy định rằng hàng hoá hoàn chỉnh hoặc hoàn thiện nhưng ở dạng chưa lắp ráp hoặc tháo rời được phân loại chung một nhóm với hàng hoá đã lắp ráp. hàng hoá ở dạng chưa lắp ráp hoặc tháo rời thường do yêu cầu đóng gói, bảo quản hoặc vận chuyển.

(vi) Quy tắc này cũng được áp dụng cho hàng hoá chưa hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn thiện, ở dạng chưa lắp ráp hoặc tháo rời những với điều kiện là đã được coi như sản phẩm hoàn chỉnh do có những đặc tính như quy định trong phần đầu của quy tắc này

(vii) Theo mục đích của quy tắc này, “hàng hoá ở dạng chưa lắp ráp hoặc tháo rời” có nghĩa là các bộ phận cấu thành hàng hoá phù hợp để lắp ráp được với nhau bằng những thiết bị đơn giản (vít, bu lông, ê-cu,v.v…), có thể bằng đinh tán hoặc hàn, với điều kiện những hoạt động này chỉ đơn thuần là lắp ráp.

Không tính đến sự phức tạp của phương pháp lắp ráp. Tuy nhiên, các bộ phận cấu thành sẽ không được trải qua bất cứ quá trình gia công thêm nào để sản phẩm trở thành dạng hoàn thiện

Những cấu kiện chưa lắp ráp những là số dư thừa theo yêu cầu để hoàn thiện sản phẩm thì được phân loại riêng.

(viii) Các trường hợp áp dụng quy tắc này được thể hiện trong các Chú giải chung của phần hoặc chương (ví dụ: phần xvi và chương 44, 86, 87 và 89).

(ix) quy tắc 2(a) thường không áp dụng cho các sản phẩm thuộc các nhóm của phần i đến phần vi (chương 1 đến chương 38).

Chú giải quy tắc 2(b):(hỗn hợp và hợp chất của các nguyên liệu hoặc các chất)

(x) Quy tắc 2(b) liên quan đến hỗn hợp và hợp chất của các nguyên liệu hoặc các chất, và hàng hoá cấu tạo từ hai hay nhiều nguyên liệu hoặc chất (ví dụ; nhóm 05.03: lông ngựa), và các nhóm có liên quan đến những hàng hoá được cấu tạo từ nguyên liệu hoặc chất nhất định (ví dụ: nhóm 45.03: các sản phẩm bằng lie tự nhiên). lưu ý rằng chỉ áp dụng quy tắc khi nội dung của nhóm hoặc của các Chú giải phần hoặc chương không có yêu cầu khác (ví dụ: nhóm 15.03: dầu mỡ lợn, chưa pha trộn).

Những sản phẩm pha trộn được mô tả trong Chú giải phần hoặc chương hoặc trong nội dung của nhóm thì phải được phân loại theo quy tắc 1.

(xi) Tác dụng của quy tắc 2 là mở rộng phạm vi của các nhóm hàng có liên quan đến các nguyên liệu hoặc các chất kể cả hỗn hợp hoặc hợp chất của các nguyên liệu hoặc chất đó với các nguyên liệu hoặc chất khác. quy tắc này cũng mở rộng phạm vi của các nhóm hàng liên quan đến những hàng hoá cấu tạo từ các nguyên liệu hoặc các chất nhất định kể cả hàng hoá cấu tạo từ một phần nguyên liệu hoặc chất đó.

(xii) Tuy nhiên, quy tắc này không mở rộng đến mức làm cho các nhóm có thể bao gồm những hàng hoá không thể đáp ứng được theo yêu cầu của quy tắc 1; đó là trường hợp khi thêm vào một nguyên liệu hoặc chất khác làm mất đi đặc tính của hàng hoá được nêu trong nội dung của nhóm.

(xiii) Theo quy tắc này, những hỗn hợp và hợp chất của các nguyên liệu hoặc các chất, và hàng hoá cấu tạo từ hai hay nhiều nguyên liệu hoặc chất, nếu thoạt nhìn qua có thể phân loại vào hai hay nhiều nhóm, thì phải được phân loại theo quy tắc 3.

Quy tắc 3

Khi áp dụng quy tắc 2(b) hoặc vì bất cứ lý do nào khác, hàng hoá thoạt nhìn có thể phân loại vào hai hay nhiều nhóm, thì sẽ phân loại như sau:

(a) Hàng hoá được phân loại vào nhóm có mô tả cụ thể, mang tính đặc trưng cơ bản nhất sẽ phù hợp hơn xếp vào nhóm có mô tả khái quát. Tuy nhiên, khi hai hay nhiều nhóm mà mỗi nhóm chỉ liên quan đến một phần của nguyên liệu hoặc chất chứa trong hàng hoá là hỗn hợp hay hợp chất, hoặc chỉ liên quan đến một phần của hàng hoá trong trường hợp hàng hoá đó ở dạng bộ được đóng gói để bán lợ, thì những nhóm này được coi như thể hiện đặc trưng ngang nhau vũ những hàng hoá nói trên, ngay cả khi một trong số các nhóm đó có mô tả đầy đủ hơn hoặc chính xác hơn vũ những hàng hoá đó.

(b) Những hàng hoá hỗn hợp bao gồm nhiều nguyên liệu khác nhau hoặc những hàng hoá được làm từ nhiều bộ phận cấu thành khác nhau, và những hàng hoá ở dạng bộ để bán lợ, nếu không phân loại được theo quy tắc 3(a), thì phân loại theonguyên liệu hoặc bộ phận cấu thành tạo ra đặc tính cơ bản của chúng.

(c) Khi hàng hoá không thể phân loại theo quy tắc 3(a) hoặc 3(b) nêu trên thì được phân loại vào nhóm cuối cùng theo thứ tự đánh số trong số các nhóm tương đương được xem xét.

Chú giải quy tắc 3:

(i) Quy tắc này nêu lên 3 cách phân loại những hàng hoá mà thoạt nhìn có thể xếp vào hai hay nhiều nhóm khác nhau khi áp dụng quy tắc 2(b) hoặc trong những trường hợp khác. những cách này được áp dụng theo thứ tự trình bày tỏng quy tắc. như vậy, quy tắc 3(b) chỉ được áp dụng khi không phân loại được theo quy tắc 3(a), và chỉ áp dụng quy tắc 3(c) khi không phân loại được theo quy tắc 3(a) và 3(b). khi phân loại phải tuân theo thứ tự như sau: a) nhóm hàng có mô tả cụ thể đặc trưng nhất; b) đặc tính cơ bản; c) nhóm được xếp cuối cùng theo thứ tự đánh số.

(ii) Quy tắc này chỉ được áp dụng khi nội dung các nhóm, Chú giải của phân hoặc chương không có yêu cầu nào khác. ví dụ: Chú giải 4(b) chương 97 yêu cầu rằng nếu hàng hoá đồng thời vừa có trong mô tả của một trong các nhóm từ 97.01 đến 97.05, vừa đúng như mô tả của nhóm 97.06 thì được phân loại vào một trong các nhóm đứng trước nhóm 97.06. trong trường hợp này hàng hoá được phân loại thoe Chú giải 4(b) chương 97 và không tuân theo quy tắc 3.

Chú giải quy tắc 3(a):

(iii) Cách phân loại thứ nhất được trình bày trong quy tắc 3(a): nhóm mô tả cụ thể đặc trưng nhất được ưu tiên hơn nhóm có mô tả khái quát.

(iv) Không thể đổt ra những quy tắc cứng nhắc để xác định một nhóm hàng này mô tả hàng hoá một cách đặc trưng hơn một nhóm hàng khác, nhưng có thể nói tổng quát rằng:

(a) Một nhóm hàng chỉ đích danh một mặt hàng cụ thể thì đặc trưng hơn nhóm hàng mô tả một họ các mặt hàng.

ví dụ: máy cạo râu và tông đơ có lắp động cơ điện được phân vào nhóm 85.10 mà không phải trong nhóm 84.67 là nhóm các dụng cụ cầm tay có lắp động cơ điện hoặc vào nhóm 85.09 là các thiết bị cơ điện gia dụng có lắp động cơ điện.

(b) Một nhóm nào đó được coi như đặc trưng hơn trong số các nhóm có thể phân loại cho một mặt hàng nhập khẩu là khi nhóm đó xác định rõ hơn và kèm theo mô tả mặt hàng cụ thể, đầy đủ hơn các nhóm khác.

Các ví dụ:

Ví dụ 1: mặt hàng thảm dệt móc và dệt kim được sử dụng trong xe ôtô, tấm thảm này có thể được phân loại như phụ tùng của xe ôtô thuộc nhóm 87.08, nhưng trong nhóm 57.03 chúng lại được mô tả một cách đặc trưng như những tấm thảm. do vậy, mặt hàng này được phân loại vào nhóm 57.03.

Ví dụ 2: mặt hàng kính an toàn chưa có khung, làm bằng thuỷ tinh dai bũn và cán mỏng, đã tạo hình và được sử dụng trên máy bay, có thể được phân loại trong nhóm 88.03 như những bộ phận của hàng hoá thuộc nhóm 88.01 hoặc 88.02 nhưng lại được phân loại trong nhóm 70.07 – nơi hàng hoá được mô tả đặc trưng như loại hàng kính an toàn.

(v) Tuy nhiên, khi hai hay nhiều nhóm mà mỗi nhóm chỉ liên quan đến một phần những nguyên liệu hoặc chất cấu thành sản phẩm hỗn hợp hoặc hợp chất, hoặc chỉ liên quan đến một phần trong bộ đóng gói để bán lợ, thì những nhóm đó được coi là cùng phản ánh tương đương đặc trưng của những hàng hoá ttrên, ngay cả khi một trong số các nhóm ấy có mô tả chính xác hoặc đầy đủ hơn vũ những hàng hoá đó.Trong trường hợp này, phân loại hàng hoá áp dụng quy tắc 3(b) hoặc 3(c).

 Ví dụ: mặt hàng băng tải có một mặt là plastic còn mặt kia là cao su; có thể xếp vào hai nhóm:

Nhóm 39.26:”các sản phẩm khác bằng plastic…”

Nhóm 40.10:”băng chuyền hoặc băng tải……, bằng cao su lưu hoá”

Nếu so sánh hai mô tả này, nhóm 40.10 thể hiện tính đặc thù hơn nhóm 39.26, vì nhóm 40.10 có từ “băng tải” trong khi nhóm 39.26 lại không ghi rõ từ “băng tải”, và như vậy có thể xem xét phân loại sản phẩm trên vào nhóm 40.10 theo quy tắc 3(a). Nhưng trong trường hợp này, không thể quyết định phân loại vào nhóm 40.10 là sản phẩm bằng cao su, chỉ liên quan đến một phần của sản phẩm băng tải nói trên. như vậy, theo quy tắc 3(a) hai nhóm 39.26 và 40.10 mang tính đặc trưng như nhau, mổc dù nhóm 40.10 có mô tả đầy đủ hơn. do đó, chúng ta không thể quyết định phân loại vào nhóm nào được, mà chúng ta phải áp dụng quy tắc 3(b) hoặc 3(c) để phân loại.

Hãy xem các quy tắc chung của hệ thống HS phần 2