Các quy tắc chung của hệ thống HS phần 1

Nganson -Tiepthilienket

Tiếp theo phần mục lục của Hệ thống HS, Ngân Sơn sẽ giới thiệu đến với các bạn các nguyên tắc chung cho việc phân nhóm HS. Dựa trên những cơ sở nào mà biểu thuế xuất nhập khẩu của mỗi quốc gia thường được phân chia theo từng nhóm tương tự nhau. Bài viết này gồm hai phần và được đăng tải trông ngày hôm nay.

Việc phân loại hàng hoá được thực hiện theo các quy tắc cơ bản dưới đây:

Quy tắc 1

Tên của các phần, của chương hoặc của phân chương được đưa ra chỉ nhằm mục đích dụ tra cứu. Để đảm bảo tính pháp lý, việc phân loại hàng hoá phải được xác định theo nội dung của từng nhóm và bất cứ Chú giải của các phần, chương liên quan và theo các quy tắc dưới đây nếu các nhóm hoặc các Chú giải đó không có yêu cầu nào khác.

Chú giải quy tắc 1

(i) Hàng hoá là đối tượng của thương mại quốc tế được sắp xếp một cách có hệ thống trong danh mục của hệ thống hài hoà theo các phần, chương và phân chương. Tên của phần, chương và phân chương được ghi ngắn gọn, súc tích để chỉ ra loại hoặc chủng loại hàng hoá được xếp trong đó. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp vì sự đa dạng của chủng loại và số lượng hàng hoá nên tên các phần, chương và phân chương không thể bao trùm hết toàn bộ hoặc liửt kê hết các hàng hoá trong đũ mục đó.

(ii) Ngay từ đầu quy tắc 1 quy định rằng những tên đũ mục “chỉ nhằm mục đích dụ tra cứu”. Điều đó có nghĩa là tên các phần, chương và phân chương không có giá trị pháp lý trong việc phân loại hàng hoá.

(iii) Phần thứ hai của quy tắc này quy định rằng việc phân loại hàng hoá được xác định theo:

(a) Nội dung của nhóm hàng và bất cứ Chú giải phần hoặc chương nào có liên quan, và

(b) Các quy tắc 2,3,4 và 5 khi nội dung nhóm hàng hoặc các Chú giải không có yêu cầu nào khác.

(iv) Rất nhiều hàng hoá có thể được phân loại trong danh mục mà không cần xem xét thêm bất cứ quy tắc giải thích nào, nghĩa là chúng đã thể hiện rõ ràng theo Chú giải quy tắc 1 nêu tại mục (iii) (a). ví dụ: ngựa sống (nhóm 01.01), dược phẩm được nêu cụ thể trong Chú giải 4 của chương 30 (nhóm 30.06).

(v) Trong Chú giải quy tắc 1 phần (iii) (b) có nêu” khi nội dung nhóm hàng hoặc các Chú giải không có yêu cầu nào khác” là nhằm khẳng định nội dung của nhóm hàng và bất kỳ Chú giải phần hoặc chương nào có liên quan có giá trị tối cao, nghĩa là chúng phải được xem xét trước tiên khi phân loại.

Ví dụ: ở chương 31, các Chú giải nêu rằng các nhóm nhất định chỉ liên quan đến những hàng hoá nhất định. Vì vậy, những nhóm hàng đó không được mở rộng cho những mặt hàng khác bằng việc áp dụng quy tắc 2(b).

Quy tắc 2

(a) Một mặt hàng được phân loại trong một nhóm hàng, thì những mặt hàng đó ở dạng chưa hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn thiện những đã có đặc trưng cơ bản của hàng hoá đã hoàn  chỉnh hoặc hoàn thiện cũng thuộc nhóm đó. cũng phân loại như vậy đối với hàng hoá ở dạng hoàn chỉnh hay hoàn thiện hoặc đã có đặc trưng cơ bản của hàng hoá ở dạng hoàn chỉnh hay hoàn thiện nhưng chưa lắp ráp hoặc tháo rời.

(b) Nếu một nguyên liệu, một chất được phân loại trong một nhóm nào đó thì hỗn hợp hay hợp chất của nguyên liệu hoặc chất đó với những nguyên liệu hoặc chất khác cũng thuộc nhóm đó. hàng hoá làm toàn bộ bằng một loại nguyên liệu hay một chất, hoặc làm một phần bằng nguyên liệu hay chất đó được phân loại trong cùng một nhóm. việc phân loại những hàng hoá làm bằng hai loại nguyên liệu hay hai chất trở lên phải tuân theo quy tắc 3.

Nganson -Tiepthilienket

Tiepthilienket

Chú giải quy tắc 2

Chú giải quy tắc 2(a)

(Các mặt hàng ở dạng chưa hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn thiện).

(i) Phần đầu của quy tắc 2(a) đã mở rộng phạm vi của một số nhóm hàng đặc thù không chỉ bao gồm hàng hoá hoàn chỉnh mà còn bao gồm cả hàng hoá ở dạng chưa hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn thiện, với điều kiện chúng có những đặc trưng cơ bản của hàng đã hoàn chỉnh hoặc hoàn thiện.

(ii) Nội dung của quy tắc này cũng được mở rộng áp dụng cho phôi đã có hình phác của sản phẩm hoàn chỉnh. thuật ngữ ”phôi đã có hình phác của sản phẩm hoàn chỉnh” có nghĩa là những loại hàng chưa sử dụng trực tiếp ngay được, đã có hình dạng hoặc đường nét bên ngoài gần giống với sản phẩm hoặc bộ phận hoàn chỉnh, được sử dụng (trừ những trường hợp ngoại lử) để hoàn thiện thành những sản phẩm hoặc bộ phận hoàn chỉnh. Các hàng hoá là bán sản phẩm chưa có hình dạng cơ bản của sản phẩm hoàn thiện (như thanh, đĩa, ống v.v…) không được coi là ” phôi đã có hình phác của sản phẩm hoàn chỉnh”.

(iii) quy tắc 2(a) thường không áp dụng cho các sản phẩm thuộc các nhóm của phần i đến phần iv (chương 1 đến chương 24).

(iv) Các trường hợp áp dụng quy tắc này được thể hiện trong các Chú giải chung của phần hoặc chương (ví dụ; phần xvi, và chương 61,62,86,87 và 90).

Chú giải quy tắc 2(a) (các mặt hàng ở dạng chưa lắp ráp hoặc tháo rời)

(v) Phần thứ hai của quy tắc 2(a) quy định rằng hàng hoá hoàn chỉnh hoặc hoàn thiện nhưng ở dạng chưa lắp ráp hoặc tháo rời được phân loại chung một nhóm với hàng hoá đã lắp ráp. hàng hoá ở dạng chưa lắp ráp hoặc tháo rời thường do yêu cầu đóng gói, bảo quản hoặc vận chuyển.

(vi) Quy tắc này cũng được áp dụng cho hàng hoá chưa hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn thiện, ở dạng chưa lắp ráp hoặc tháo rời những với điều kiện là đã được coi như sản phẩm hoàn chỉnh do có những đặc tính như quy định trong phần đầu của quy tắc này

(vii) Theo mục đích của quy tắc này, “hàng hoá ở dạng chưa lắp ráp hoặc tháo rời” có nghĩa là các bộ phận cấu thành hàng hoá phù hợp để lắp ráp được với nhau bằng những thiết bị đơn giản (vít, bu lông, ê-cu,v.v…), có thể bằng đinh tán hoặc hàn, với điều kiện những hoạt động này chỉ đơn thuần là lắp ráp.

Không tính đến sự phức tạp của phương pháp lắp ráp. Tuy nhiên, các bộ phận cấu thành sẽ không được trải qua bất cứ quá trình gia công thêm nào để sản phẩm trở thành dạng hoàn thiện

Những cấu kiện chưa lắp ráp những là số dư thừa theo yêu cầu để hoàn thiện sản phẩm thì được phân loại riêng.

(viii) Các trường hợp áp dụng quy tắc này được thể hiện trong các Chú giải chung của phần hoặc chương (ví dụ: phần xvi và chương 44, 86, 87 và 89).

(ix) quy tắc 2(a) thường không áp dụng cho các sản phẩm thuộc các nhóm của phần i đến phần vi (chương 1 đến chương 38).

Chú giải quy tắc 2(b):(hỗn hợp và hợp chất của các nguyên liệu hoặc các chất)

(x) Quy tắc 2(b) liên quan đến hỗn hợp và hợp chất của các nguyên liệu hoặc các chất, và hàng hoá cấu tạo từ hai hay nhiều nguyên liệu hoặc chất (ví dụ; nhóm 05.03: lông ngựa), và các nhóm có liên quan đến những hàng hoá được cấu tạo từ nguyên liệu hoặc chất nhất định (ví dụ: nhóm 45.03: các sản phẩm bằng lie tự nhiên). lưu ý rằng chỉ áp dụng quy tắc khi nội dung của nhóm hoặc của các Chú giải phần hoặc chương không có yêu cầu khác (ví dụ: nhóm 15.03: dầu mỡ lợn, chưa pha trộn).

Những sản phẩm pha trộn được mô tả trong Chú giải phần hoặc chương hoặc trong nội dung của nhóm thì phải được phân loại theo quy tắc 1.

(xi) Tác dụng của quy tắc 2 là mở rộng phạm vi của các nhóm hàng có liên quan đến các nguyên liệu hoặc các chất kể cả hỗn hợp hoặc hợp chất của các nguyên liệu hoặc chất đó với các nguyên liệu hoặc chất khác. quy tắc này cũng mở rộng phạm vi của các nhóm hàng liên quan đến những hàng hoá cấu tạo từ các nguyên liệu hoặc các chất nhất định kể cả hàng hoá cấu tạo từ một phần nguyên liệu hoặc chất đó.

(xii) Tuy nhiên, quy tắc này không mở rộng đến mức làm cho các nhóm có thể bao gồm những hàng hoá không thể đáp ứng được theo yêu cầu của quy tắc 1; đó là trường hợp khi thêm vào một nguyên liệu hoặc chất khác làm mất đi đặc tính của hàng hoá được nêu trong nội dung của nhóm.

(xiii) Theo quy tắc này, những hỗn hợp và hợp chất của các nguyên liệu hoặc các chất, và hàng hoá cấu tạo từ hai hay nhiều nguyên liệu hoặc chất, nếu thoạt nhìn qua có thể phân loại vào hai hay nhiều nhóm, thì phải được phân loại theo quy tắc 3.

Quy tắc 3

Khi áp dụng quy tắc 2(b) hoặc vì bất cứ lý do nào khác, hàng hoá thoạt nhìn có thể phân loại vào hai hay nhiều nhóm, thì sẽ phân loại như sau:

(a) Hàng hoá được phân loại vào nhóm có mô tả cụ thể, mang tính đặc trưng cơ bản nhất sẽ phù hợp hơn xếp vào nhóm có mô tả khái quát. Tuy nhiên, khi hai hay nhiều nhóm mà mỗi nhóm chỉ liên quan đến một phần của nguyên liệu hoặc chất chứa trong hàng hoá là hỗn hợp hay hợp chất, hoặc chỉ liên quan đến một phần của hàng hoá trong trường hợp hàng hoá đó ở dạng bộ được đóng gói để bán lợ, thì những nhóm này được coi như thể hiện đặc trưng ngang nhau vũ những hàng hoá nói trên, ngay cả khi một trong số các nhóm đó có mô tả đầy đủ hơn hoặc chính xác hơn vũ những hàng hoá đó.

(b) Những hàng hoá hỗn hợp bao gồm nhiều nguyên liệu khác nhau hoặc những hàng hoá được làm từ nhiều bộ phận cấu thành khác nhau, và những hàng hoá ở dạng bộ để bán lợ, nếu không phân loại được theo quy tắc 3(a), thì phân loại theonguyên liệu hoặc bộ phận cấu thành tạo ra đặc tính cơ bản của chúng.

(c) Khi hàng hoá không thể phân loại theo quy tắc 3(a) hoặc 3(b) nêu trên thì được phân loại vào nhóm cuối cùng theo thứ tự đánh số trong số các nhóm tương đương được xem xét.

Chú giải quy tắc 3:

(i) Quy tắc này nêu lên 3 cách phân loại những hàng hoá mà thoạt nhìn có thể xếp vào hai hay nhiều nhóm khác nhau khi áp dụng quy tắc 2(b) hoặc trong những trường hợp khác. những cách này được áp dụng theo thứ tự trình bày tỏng quy tắc. như vậy, quy tắc 3(b) chỉ được áp dụng khi không phân loại được theo quy tắc 3(a), và chỉ áp dụng quy tắc 3(c) khi không phân loại được theo quy tắc 3(a) và 3(b). khi phân loại phải tuân theo thứ tự như sau: a) nhóm hàng có mô tả cụ thể đặc trưng nhất; b) đặc tính cơ bản; c) nhóm được xếp cuối cùng theo thứ tự đánh số.

(ii) Quy tắc này chỉ được áp dụng khi nội dung các nhóm, Chú giải của phân hoặc chương không có yêu cầu nào khác. ví dụ: Chú giải 4(b) chương 97 yêu cầu rằng nếu hàng hoá đồng thời vừa có trong mô tả của một trong các nhóm từ 97.01 đến 97.05, vừa đúng như mô tả của nhóm 97.06 thì được phân loại vào một trong các nhóm đứng trước nhóm 97.06. trong trường hợp này hàng hoá được phân loại thoe Chú giải 4(b) chương 97 và không tuân theo quy tắc 3.

Chú giải quy tắc 3(a):

(iii) Cách phân loại thứ nhất được trình bày trong quy tắc 3(a): nhóm mô tả cụ thể đặc trưng nhất được ưu tiên hơn nhóm có mô tả khái quát.

(iv) Không thể đổt ra những quy tắc cứng nhắc để xác định một nhóm hàng này mô tả hàng hoá một cách đặc trưng hơn một nhóm hàng khác, nhưng có thể nói tổng quát rằng:

(a) Một nhóm hàng chỉ đích danh một mặt hàng cụ thể thì đặc trưng hơn nhóm hàng mô tả một họ các mặt hàng.

ví dụ: máy cạo râu và tông đơ có lắp động cơ điện được phân vào nhóm 85.10 mà không phải trong nhóm 84.67 là nhóm các dụng cụ cầm tay có lắp động cơ điện hoặc vào nhóm 85.09 là các thiết bị cơ điện gia dụng có lắp động cơ điện.

(b) Một nhóm nào đó được coi như đặc trưng hơn trong số các nhóm có thể phân loại cho một mặt hàng nhập khẩu là khi nhóm đó xác định rõ hơn và kèm theo mô tả mặt hàng cụ thể, đầy đủ hơn các nhóm khác.

Các ví dụ:

Ví dụ 1: mặt hàng thảm dệt móc và dệt kim được sử dụng trong xe ôtô, tấm thảm này có thể được phân loại như phụ tùng của xe ôtô thuộc nhóm 87.08, nhưng trong nhóm 57.03 chúng lại được mô tả một cách đặc trưng như những tấm thảm. do vậy, mặt hàng này được phân loại vào nhóm 57.03.

Ví dụ 2: mặt hàng kính an toàn chưa có khung, làm bằng thuỷ tinh dai bũn và cán mỏng, đã tạo hình và được sử dụng trên máy bay, có thể được phân loại trong nhóm 88.03 như những bộ phận của hàng hoá thuộc nhóm 88.01 hoặc 88.02 nhưng lại được phân loại trong nhóm 70.07 – nơi hàng hoá được mô tả đặc trưng như loại hàng kính an toàn.

(v) Tuy nhiên, khi hai hay nhiều nhóm mà mỗi nhóm chỉ liên quan đến một phần những nguyên liệu hoặc chất cấu thành sản phẩm hỗn hợp hoặc hợp chất, hoặc chỉ liên quan đến một phần trong bộ đóng gói để bán lợ, thì những nhóm đó được coi là cùng phản ánh tương đương đặc trưng của những hàng hoá ttrên, ngay cả khi một trong số các nhóm ấy có mô tả chính xác hoặc đầy đủ hơn vũ những hàng hoá đó.Trong trường hợp này, phân loại hàng hoá áp dụng quy tắc 3(b) hoặc 3(c).

 Ví dụ: mặt hàng băng tải có một mặt là plastic còn mặt kia là cao su; có thể xếp vào hai nhóm:

Nhóm 39.26:”các sản phẩm khác bằng plastic…”

Nhóm 40.10:”băng chuyền hoặc băng tải……, bằng cao su lưu hoá”

Nếu so sánh hai mô tả này, nhóm 40.10 thể hiện tính đặc thù hơn nhóm 39.26, vì nhóm 40.10 có từ “băng tải” trong khi nhóm 39.26 lại không ghi rõ từ “băng tải”, và như vậy có thể xem xét phân loại sản phẩm trên vào nhóm 40.10 theo quy tắc 3(a). Nhưng trong trường hợp này, không thể quyết định phân loại vào nhóm 40.10 là sản phẩm bằng cao su, chỉ liên quan đến một phần của sản phẩm băng tải nói trên. như vậy, theo quy tắc 3(a) hai nhóm 39.26 và 40.10 mang tính đặc trưng như nhau, mổc dù nhóm 40.10 có mô tả đầy đủ hơn. do đó, chúng ta không thể quyết định phân loại vào nhóm nào được, mà chúng ta phải áp dụng quy tắc 3(b) hoặc 3(c) để phân loại.

Hãy xem các quy tắc chung của hệ thống HS phần 2

Điểm đánh giá

Vài nét về Ngân Sơn

Blog Tiếp Thị Liên Kết là cuốn nhật ký online ghi lại những cung bậc cảm xúc trong quá trình viết blog. Mình thường viết về cuộc sống thường nhật, những trải nghiệm trong công việc, xu hướng phát triển của công nghệ và khởi nghiệp trực tuyến. Mọi thông tin các bạn có thể liên hệ qua chuyên mục hỏi đáp.

Theo dõi mình qua: